Bài 1: Tài chính là gì?

Bài 1: Tài chính là gì?

Topics in Mathematics with Applications in Finance
(Ứng dụng thuật toán vào tài chính)

Đây là khoá học về tài chính miễn phí của trường đại học MIT. Gồm 28 bài từ khai niệm cơ bản về tài chính cho đến áp dụng thuật toán vào quản lý rủi ro.

Mục đích khoá học nhằm trang cho sinh viên khái niệm về toán học và cách ứng dụng vào lĩnh vực tài chính. Các bài giảng toán học đan xen với các bài mô tả ứng dụng tương ứng trong ngành tài chính. Các giáo sư toán học của MIT dạy về thuật toán, còn các chuyên gia tài chính giảng về cách ứng dụng thuật toán vào lĩnh vực tài chính.

Vì bài giảng chi tiết khá chuyên sâu, ứng dụng nhiều công thức toán học phức tạp. Chúng tôi xin trích dịch vài bài mang ý nghĩa định hướng, dành cho người không biết gì về tài chính, có cái nhìn rõ nét hơn về ngành công nghiệp đã tạo ra rất nhiều tỉ phú.

Link khoá học: https://ocw.mit.edu/courses/mathematics/18-s096-topics-in-mathematics-with-applications-in-finance-fall-2013/

Bài 1: Tài chính là gì?
Giảng viên: Ông Jake Xia – Giám đốc điều hành kiêm Quản lý rủi ro của công ty Harvard Management.
Link bài giảng: https://www.youtube.com/watch?v=wvXDB9dMdEo

Ngày xưa tài chính là trao đổi hàng hoá, anh có cái tôi cần và tôi có cái anh cần, và thế là chúng ta trao đổi với nhau. Sau đó hàng hoá phát triển thành cổ phiếu, tất cả sản phẩm, dịch vụ trên thế giới được niêm yết dưới dạng cổ phiếu và được trao đổi trên sàn giao dịch. Đó là phương thức kinh doanh tập trung. Hiện nay chúng ta có ECN – một nền tảng giao dịch điện tử – Giao dịch khối lượng lớn các ngành nghề, vì vậy, sản phẩm tài chính chỉ là một trong những hình thức giao dịch. Có nhiều cách giao dịch khác nhau, một trong số đó là OTC (Over The Counter), có nghĩa là hai bên đồng ý thực hiện giao dịch mà không tuân theo các thoả thuận thương mại cơ bản, cũng không bắt buộc phải là một sản phẩm chứng khoán hoặc thuộc tiêu chuẩn nào đó.

Giao dịch Cổ phiếu là gì?

Nhiều người giao dịch cổ phiếu với khối lượng lớn, giao dịch nhiều nhóm cổ phiếu với nhau, đó gọi là chỉ số index. Cổ phiếu được niêm yết trên sàn chứng khoán như thế nào? Đó là thông qua quá trình IPO (Initial Public Offering), khi công ty chuyển từ tư nhân sang đại chúng, gọi là thị trường sơ cấp (Primary Trading), các cổ phiếu được niêm yết trên sàn giao dịch và mọi người có thể mua bán trên thị trường gọi là thị trường thứ cấp (Secondary Trading). Tóm lại, cổ phiếu là một hình thức giao dịch hoặc một dạng sản phẩm tài chính.

CÁC MÔ HÌNH TÀI CHÍNH:
1. Cho vay tài chính, Trái phiếu

Cho vay tài chính là một thoả thuận riêng giữa người có tiền và người cần tiền, theo ngôn ngữ chứng khoán đó chính là trái phiếu. Chính phủ cần tiền cho ngân sách nhà nước, doanh nghiệp cần tiền để xây dựng nhà máy hoặc mở rộng kinh doanh. Đó là sản phẩm nợ.

2. Hàng hoá

Kim loại, năng lượng, sản phẩm nông nghiệp hầu hết được giao dịch dưới dạng vật lý, nghĩa là liên quan đến quá trình giao nhận. Khi bạn mua hoặc bán, bạn cần kho lưu trữ hàng, chuyển hàng ra nước ngoài.

3. Bất động sản

Bao gồm mua hoặc bán nhà, Chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp (Mortgage-backed security – MBS) và Chứng khoán đảm bảo bằng tài sản (Asset-backed security – ABS). Chứng khoán đảm bảo bằng tài sản (ABS) là khi bạn có một tài sản và bạn phát hành khoản vay dựa trên tài sản đó. Bạn đánh giá độ rủi ro của tài sản đó, các khoản thu nhập và các dòng tiền. Điểm khác biệt cơ bản giữa MBS và ABS là ở tài sản đảm bảo. Với MBS là bất động sản, còn với ABS là các dòng tiền.

4. Sản phẩm phái sinh (Derivatives)

Là các giao dịch hoán đổi, quyền chọn và các sản phẩm có cấu trúc, thích hợp cho nhà đầu tư hoặc người cho vay xây dựng các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của họ. Sự phức tạp của những sản phẩm có cấu trúc khá cao, do đó, rất khó khăn khi áp dụng thuật toán để can thiệp vào việc định giá và quản lý rủi ro.

Những ai tham gia thị trường tài chính?
Thành phần tham gia thị trường tài chính rất đa dạng, tiêu biểu nhất là nhóm ngân hàng: ngân hàng Thương mại và ngân hàng Đầu tư.

– Ngân hàng Thương mại: Nhận tiền gửi, cho vay tiền, và các hoạt động thương mại khác.
– Ngân hàng Đầu tư: Tập trung vào các thị trường vốn, huy động vốn, kinh doanh, và quản lý tài sản. Ngân hàng thường được tổ chức bởi doanh nghiệp thế chấp và quản lý tài sản, vì vậy hoạt động kinh doanh bao gồm 3 mảng chính:
– Doanh thu cố định, gồm các giao dịch ghi nợ và các sản phẩm phái sinh.
– Sở hữu vốn, cổ phiếu thương mại và các sản phẩm phái sinh.
– IBD (Bộ phận ngân hàng đầu tư) bao gồm tài chính doanh nghiệp, huy động vốn, niêm yết cổ phiếu, IPO và sáp nhập.

Thị trường tài chính có phải là trò chơi Zero-sum?

Trong thị trường tài chính, có người thắng và cũng có người thua, phụ thuộc vào sản phẩm và thị trường mà bạn giao dịch, cho nên tài chính không phải là trò chơi Zero-sum. Zero-sum là từ dùng để diễn tả tình huống trong đó nếu một người thu được lợi ích thì người kia sẽ bị thiệt hại tương đương và ngược lại. Sở dĩ gọi là Zero-sum vì sau khi cộng tất cả các lợi ích, trừ đi các khoản thiệt hại, ta được kết quả là 0.

Tại sao chúng ta cần thị trường tài chính?

Bởi vì một cái gì đó tồn tại thường xuất phát từ nhu cầu thực tế, cần phải có cầu nối giữa người cho vay và người đi vay. Nhà đầu tư có tiền và cần tìm nguồn đầu tư sinh lợi tốt. Trong thời buổi hiện nay, tài khoản tiết kiệm ở ngân hàng không giúp bạn kiếm được bao nhiêu, nên bạn phải dám mạo hiểm để tạo ra lợi nhuận nhiều hơn. Ví dụ mua cổ phiếu, khi bạn mua cổ phiếu của công ty nào đó, tức là bạn góp tiền vào công ty đó, công ty sử dụng tiền đó để đầu tư sinh lợi. Còn với những người cho vay, họ gặp rủi ro khi người vay tiền không trả lại tiền vay. Mỗi loại hình đầu tư đều có rủi ro riêng, nhìn chung giao dịch giữa người cho vay và người đi vay là nền tảng của thị trường tài chính.

Vài trò của các thành phần tham gia thị trường
1. Ngân hàng

Ngân hàng còn gọi là nhà cái (Dealer), đóng vai trò là người tạo ra thị trường, khi bạn và nhiều người khác muốn mua hoặc bán, nếu không có thị trường, bạn sẽ không thể tiếp cận sản phẩm để mua bán, lúc này, nhà cái sẽ đóng vai trò là người trung gian, cho bạn một mức giá, ví dụ: Cổ phiếu A với giá thầu là 0.99 USD, ngân hàng cho bạn mức giá là 0.95 USD. Đó là cái giá bạn sẵn sàng mua hoặc bán. Nhưng kết quả sau cùng của giao dịch là gì? nhà cái giữ phần còn lại của giao dịch này, nên họ là người chấp nhận rủi ro chính trong trường hợp này. Đó là sự khác biệt giữa nhà cái và nhà môi giới (Broker), nhà môi giới không phải chịu rủi ro. Nếu bạn muốn mua hoặc bán cái gì đó, nhà môi giới sẽ không cho bạn cái giá, mà họ sẽ liên kết bạn với người mua hoặc người bán, họ tìm cách hoàn thành giao dịch giữa 2 bên và nhận được tiền huê hồng.

2. Các Quỹ tương hỗ (Mutual Funds)

Quản lý tiền của các nhà đầu tư, đặc biệt trong thời gian dài hạn, giống như bạn mua cổ phiếu nhưng không bán ra trong thời gian ngắn.

3. Công ty bảo hiểm

Công ty bảo hiểm có tài sản lớn, họ cần tạo ra lợi nhuận và dòng tiền để đáp ứng nhu cầu về trách nhiệm của họ, vì vậy, họ cần đầu tư.

4. Các quỹ hưu trí

Các quỹ hưu trí cũng tương tự, khi lạm phát tăng cao, họ cần trả tiền nhiều hơn cho người nghỉ hưu, vì vậy, họ cũng cần đầu tư.

5. Quỹ Phòng hộ (Hedge Funds)

Quỹ Phòng hộ tìm kiếm lợi nhuận từ thị trường kém tích cực, họ tái định vị và định giá, vì vậy họ có chiến lược đầu tư rất khác biệt. (Phút thứ 24:00)

6. Công ty cổ phần tư nhân

Là loại quỹ hoàn toàn khác, họ đầu tư vào những công ty dưới hình thức tư nhân hoặc cô phần tư nhân, để gia tăng lợi nhuận cho công ty.

Các loại hình giao dịch
1. Bảo hiểm rủi ro: Rủi ro này không phải do bạn tạo ra, mà chính bản thân giao dịch đã tồn tại rủi ro. Ví dụ: Bạn thế chấp để vay tiền mua nhà, bạn phải trả lãi suất thế chấp thả nổi, bạn lo lắng lãi suất tăng cao, nên bạn chuyển sang trả lãi suất cố định.

2. Tạo lập thị trường: Nhà tạo lập thị trường chịu rủi ro trước tiên, nguồn lợi chính là từ các đề nghị dự thầu. Ví dụ: Giá thầu là 0.90 USD, họ chào giá 0.95 USD, đây là cách các Nhà tạo lập thị trường kiếm tiền, nhưng rủi ro của họ là không phải mọi giao dịch đều khớp lệnh, làm thế nào để tối ưu những nhóm giao dịch là công việc của các nhà tạo lập thị trường. Hầu hết các ngân hàng là nhà tạo lập thị trường.

3. Kinh doanh độc lập (Proprietary Trader): Những người thích mạo hiểm, họ là những Quỹ Phòng hộ hoặc nhà quản lý danh mục đầu tư. Họ tập trung vào việc tạo ra lợi nhuận và kiểm soát rủi ro. Đây là nơi mà các thuật toán được ứng dụng để tạo ra lợi nhuận tối đa. (Phút thứ 30:00)

Ví dụ về các loại hình giao dịch
1. Bảo hiểm rủi ro
: Lãi suất tại Úc cao hơn Nhật, nên nhiều người vay tiền ở Nhật và đầu tư ở Úc. Vậy tại sao mọi người không làm vậy thường xuyên để hưởng lợi nhuận chênh lệch về tỉ giá? Bởi vì khi bạn đầu tư vào Úc, đồng đô Úc sẽ yếu hơn đồng Yên Nhật, bạn sẽ mất tất cả lợi nhuận, hơn nữa, nếu mọi người đều làm tương tự, khi bạn cố gắng thoát ra, sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của bạn.

2. Tạo lập thị trường
: Bạn có thể dễ dàng tìm được câu trả lời cho câu hỏi: Giá cổ phiếu Apple hôm nay là bao nhiêu, nhưng bạn sẽ không dễ tìm được câu trả lời cho câu hỏi: Giá quyền chọn của cổ phiếu Apple trong thời gian 2 tháng là bao nhiêu? Đây là công việc của nhà tạo lập thị trường, họ cung cấp khả năng thanh khoản và nhận lấy rủi ro. Họ quản lý sổ sách bằng cách cân bằng những chỉ số tài chính như Delta: mô tả mối liên hệ của toàn bộ sổ sách đối với các cổ phiếu cơ bản hoặc tiền tệ. Gamma là sự thay đổi của danh mục đầu tư, được dẫn xuất từ Delta, Gamma là giá trị thứ 2 của Delta. Theta là không có thay đổi trên thị trường. Cuối cùng là Giá trị VaR (Value at Risk – giá trị chịu rủi ro), đây là khái niệm quan trọng mà bất cứ ai làm tài chính cũng biết. VaR của một danh mục tài sản tài chính được định nghĩa là khoản tiền lỗ tối đa trong một thời hạn nhất định, nếu ta loại trừ những trường hợp xấu nhất (worst case scenarios) hiếm khi xảy ra. Đây là một phương pháp đánh giá mức rủi ro của một danh mục đầu tư theo hai tiêu chuẩn như giá trị của danh mục đầu tư và khả năng chịu đựng rủi ro của nhà đầu tư. (Tham khảo Bài học về đầu tư tài chính qua bộ phim Margin Call)

3. Kinh doanh độc lập: Đây là phương thức giao dịch phổ biến của các quỹ đầu tư như Quỹ Phòng hộ, ứng dụng thuật toán để tạo ra lợi nhuận tối đa, họ có chiến thuật giao dịch ngắn hạn hoặc dài hạn.

– Arbitrage (lợi nhuận chênh lệch): lợi nhuận có được từ sự chênh lệch giá. Ví dụ trong thị trường Forex, sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán giữa các cặp tiền tệ là cơ hội kiếm tiền của các nhà đầu tư.

– Chiến lược giá trị: Nhìn theo xu hướng dài hơn, xác định những giá trị tiềm ẩn trong một trường hợp cụ thể, và giao dịnh trên giá trị tương đối.


- Chiến lược mô hình: Xây dựng mô hình trên máy tính, nhìn mô hình và dự đoán xu hướng (mô hình nến trong Forex). Tuy nhiên mô hình này được khá nhiều người ứng dụng nên cũng dần tỏ ra kém hiệu quả.


- Fundamental Analysis (Phân tích cơ bản): Là dạng phân tích kỹ thuật trả lời cho các câu hỏi lớn như: Cán cân thương mại của một quốc gia là gì? tiềm năng thu nhập của một công ty là gì? Tại sao nhiều người bán tháo cổ phiếu trong vài tháng qua?

– Trường hợp đặc biệt: Hưởng lợi bằng cách mua lại cổ phiếu hoặc tài sản của những công ty phá sản với giá rẻ.

Ứng dụng thuật toán vào ngành tài chính như thế nào?

Thuật toán rất hiệu quả trong ngành tài chính, ví dụ bạn muốn mua một công cụ tài chính, bạn cần biết giá chính xác, bạn có thể dễ dàng theo dỏi giá cổ phiếu trên thị trường, nhưng với một sản phẩm tài chính thì phức tạp hơn, khi bạn điều chỉnh biên độ thì giá cũng sẽ giao động theo, bạn cần tính được giá chính xác theo biên độ đặt ra. Đó là lúc thuật toán phát huy tác dụng.

Các cách áp dụng thuật toán

1. Mô hình định giá: tạo ra các thông số rủi ro và kiểm soát chúng.
2. Quản lý rủi ro: Thuật toán là công cụ cực kì hiệu quả trong quản lý rủi ro. Nó có thể xác định mức độ ảnh hưởng của rủi ro.
3. Chiến lược kinh doanh: Ứng dụng robot vào trong giao dịch, với những thuật toán đã được tích hợp, robot sẽ giao dịch thay con người. Nhưng robot sẽ là con dao 2 lưỡi nếu bạn không kiểm soát được nó, cho nên bạn vẫn phải liên tục kiểm soát, nâng cấp con robot và điều chỉnh chiến lược của mình.

(Hết bài 1)